Những dấu hiệu nhận biết con tự kỷ bố mẹ nào cũng phải ghi nhớ

cach nhan biet tre tu ky som

Tự kỷ ở trẻ con không phải là bệnh mà là một hội chứng, đa số các phụ huynh khi biết con mình mắc chứng tự kỷ đã rơi vào tâm trạng chán nản tự trách bản thân. Vậy nên, hãy xem và ghi lại nhưng dấu hiệu nhận biết con tự kỷ để phòng tránh nhé.

Tại Việt Nam có tới 200.000 người bị mắc hội chứng tự kỷ. Do thiếu được tuyển truyền thông tin về hội chứng này, các bậc cha mẹ thường đổ lỗi cho bản thân vì không biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng, thiếu quan tâm đến con, dẫn đến việc con bị tự kỷ. Có tỷ lệ khoảng 1% dân số thế giới mức phải hội chúng phổ tự kỷ.

Dau hieu tre tu ky

Nguyên nhân của hội chứng này còn chưa được biết rõ. Các nghiên cứu chỉ ra rất nhiều yếu tố về gen hoặc di truyền có liên quan tới tự kỷ.

Bệnh tự kỷ ở trẻ em là gì?

Tự kỷ là một chứng rối loạn phát triển nặng, lần đầu xuất hiện trong thời thơ ấu, thường kéo dài mà không có dấu hiệu thuyên giảm. Người bị bệnh tự kỷ có thể bị tổn hại nghiêm trọng ở một số mặt, nhưng ở mức độ bình thường hoặc thậm chí cao ở những cá thể khác.

Triệu chứng dần lộ rõ sau khoảng sáu tháng tuổi, phát triển theo độ tuổi hai hoặc ba nămvà có xu hướng tiếp diễn qua tuổi trưởng thành, mặc dù thường ở dạng bị kìm hãm. Ở một số mặt khác, chẳng hạn như ăn uống, cũng phổ biến nhưng không cần thiết để chẩn đoán.

Tham khảo thêm về bệnh tự kỷ ở trẻ em tại Wiki

Phân loại bênh tự kỷ

Hội chứng tự kỷ là rối loạn phát triển lan tỏa xuất hiện sớm ở trẻ nhỏ và kéo dài với các dấu hiệu ở 3 lĩnh vực

  • Tự kỷ điển hình: xuất hiện trước 3 tuổi ở cả 3 lĩnh vực nói trên.
  • Tự kỷ không điển hình: xuất hiện sau 3 tuổi, không đủ cả 3 lĩnh vực.
  • Tự kỷ chức năng cao: biết chữ số sớm, trí nhớ máy móc tốt nhưng kém giao tiếp và tương tác xã hội.
  • Hội chứng phân rã ở trẻ nhỏ: bình thường trước 3 – 4 tuổi, sau đó xuất hiện các dấu hiệu tự kỷ mức nặng.

Dấu hiệu nhân biết trẻ bị tự kỷ sớm

 

Dau hieu phat hien tre bi tu ky som

  • Giảm tương tác xã hội: ít nhìn mắt, ít chỉ tay, ít cử chỉ giao tiếp, không chơi với bạn, gọi ít quay đầu lại, không khoe, không chia sẻ quan tâm với người khác.
  • Giảm giao tiếp: chậm nói, nhại lời, phát âm vô nghĩa, nếu nói được lại không biết duy trì hội thoại, giọng nói khác thường, không biết chơi giả vờ.
  • Hành vi bất thường: hành động rập khuôn, cầm lâu một thứ, cuốn hút quá mức với tivi, quảng cáo, logo, sách, chữ, số, bấm nút đồ điện, đi kiễng gót, chạy vòng quanh, nhìn tay, ăn ít nhai…

Những bé hay bị mắc hội chứng tự kỷ

  1. Mẹ mang thai bị nhiễm một số loại virus.
  2. Khi sinh bị ngạt, sang chấn não, can thiệp sản khoa, sinh non.
  3. Khuyết tật tâm thần, tổn thương hệ thần kinh bẩm sinh.
  4. Các tình trạng nhiễm sắc thể bất thường.
  5. Gia đình ít quan tâm, xem tivi nhiều làm mức độ tự kỷ nặng thêm, đây không phải là nguyên nhân tự kỷ.

Phương pháp phát hiện và điều trị

a. Chẩn đoán

  • Khám thần kinh, nội khoa, tâm thần, đánh giá theo DSM-IV.
  • Khám răng hàm mặt, tai mũi họng, đo thính lực …
  • Test tâm lý: Denver II, M – CHAT, CARS, thang hành vi cảm xúc.
  • Các bác sỹ chuyên khoa Nhi, Thần kinh, Tâm thần có thể sàng lọc các dấu hiệu để xác định trẻ có mắc tự kỷ không, tiến hành đánh giá chuyên khoa xác định chẩn đoán.

b. Trị liệu

Ngay từ khi trẻ có biểu hiện bất thường, chẩn đoán xác định rõ từ 24 – 30 tháng, cần:

– Trị liệu hành vi, dạy ngôn ngữ và giao tiếp, trị liệu tâm vận động và điều hoà cảm giác, tự phục vụ, chơi tương tác, kỹ năng xã hội, tư vấn gia đình.

– Các kỹ năng cơ bản dạy trẻ: chú ý bằng nhìn, lắng nghe, bắt chước, giao tiếp bằng cử chỉ, chơi phù hợp, hiểu lời, kỹ năng phát âm.

Cách giảm thiểu tỷ lệ tự kỷ ở trẻ tại nhà

  1. Chơi và dạy trẻ mọi lúc, mọi nơi. Ít nhất 3 giờ/ngày.
  2. Đi lớp, hạn chế xem tivi.
  3. Gọi tên, nhìn mắt, nhìn theo tay chỉ, gây sự chú ý của trẻ, tạo nhu cầu cho trẻ.
  4. Dạy trẻ chỉ ngón trỏ vào bộ phận cơ thể, đồ vật, tranh ảnh.
  5. Dạy cử chỉ giao tiếp: chào, ạ, xin, bye, bắt tay, hoan hô,…
  6. Dạy cách chơi đồ chơi và chơi với người khác: chi chành, ú oà, kiến bò…
  7. Bắt chước các động tác môi miệng, nét mặt, tiếng kêu con vật, đồ vật, từ đơn giản.
  8. Nói ngắn, rõ, nhấn mạnh từ chính kèm theo cử chỉ, điệu bộ, tranh ảnh, đồ vật.
  9. Giao tiếp bằng tranh để đổi lấy thứ trẻ cần (PECS).
  10. Sai việc đơn giản, thực hiện mệnh lệnh.
  11. Vận động tinh: xếp, ghép, vẽ tô, xâu, cắm, xé, cắt dán,…
  12. Vận động thô: đi bộ, bò, lăn, nhảy, trượt, thể dục, đạp xe, lăn bóng, …
  13. Kích thích cảm giác khác nhau vào da, cơ, khớp: mát xa, chải, xoa bóp, ép khớp…
  14. Tự tập xúc ăn, cầm cốc, đi vệ sinh, mặc quần áo, đi dép, …
  15. Khuyến khích trẻ chơi cùng trẻ khác.
  16. Dứt khoát hành vi sai, lờ đi khi trẻ ăn vạ.
  17. Luôn khuyến khích, động viên, khen ngợi với tiến bộ nhỏ nhất.
  18. Hiện chưa có thuốc chữa khỏi tự kỷ mà chỉ có thuốc điều trị rối loạn đi kèm như tăng động, hung tính, động kinh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *